Những món ăn đặc sản Hà Giang - Nhà hàng - Viet Village Hotel

Tại sao chọn chúng tôi

  • Thiết kế sang trọng và thuận tiện với không gian ấm cúng
  • Miễn phí xe đón sân bay Nội Bài
  • Miễn phí ăn sáng và nước uống
  • Đảm bảo hài lòng khi nghỉ tại khách sạn
  • Khách sạn gần Sân bay Nội Bài nhất

Những món ăn đặc sản Hà Giang

Hà Giang không chỉ được biết đến là một tỉnh miền núi với nhiều phong cảnh hùng vĩ, phong tục tập quán, những lễ hội phong phú, những dãy núi đá cao thật cao mà ở đây chúng ta còn thấy đó là một mảnh đất với nhiều sản vật của tự nhiên rất hấp dẫn và một trong những điểm hấp dẫn du khách đó chính là văn hóa ẩm thực là những món ăn được làm từ nhiều nguồn nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên, trở thành món ăn lạ miệng, thú vị và ấn tượng đặc biệt chỉ có ở cao nguyên vùng cao Hà Giang.

Những món ăn đặc sản Hà Giang

Những món ăn đặc sản Hà Giang

Du lịch Hà Giang, du khách sẽ được viếng thăm nhiều danh thắng đẹp như: phố cổ Đồng Văn, núi đôi Quản Bạ, cột cờ Lũng Cú... Bên cạnh đó, bạn cũng sẽ được thưởng thức nhiều món ăn và đặc sản hấp dẫn. Phần 1 của bài viết, chúng tôi xin giới thiệu với các bạn một số đặc sản hấp dẫn tại Hà Giang: thịt trâu gác bếp, cháo ấu tẩu, rêu nướng và mật ong bạc hà.

1. Thịt trâu gác bếp

Tham gia Chuyến du lịch hà giang để được thưởng thức món thịt trâu gác bếp Không giống như khô được làm từ thịt trâu, bò ở miền xuôi, khô trâu miền đá Hà Giang được chế biến với cách làm truyền thống, thành món ăn độc đáo.
Khi làm, Người ta thường chọn những phần thịt trâu ngon rồi xẻ dọc theo thớ thịt thành những miếng dài kiểu con chì, rồi hun bằng khói của than củi từ các núi đá.
Với miếng thịt trâu thành phẩm, mùi khói gần như vẫn còn nguyên, song lại không gây khó chịu. Thịt được ướp muối và gừng, ớt, tiêu rừng. Sau đó, thịt mắc trên giàn bếp, hun khói từ củi cây rừng. Gác bếp suốt hai tháng liền, khối thịt trâu ám khói đen và khô lại, thấm hết mọi gia vị vào trong. Trên bề mặt vẫn còn những hạt tiêu rừng, miếng ớt, miếng gừng…
Cách làm chỉ đơn giản như thế nhưng khô trâu là món đặc sản của nhiều tộc người ở vùng đất này. Người ta đặt khô trâu trên giàn bếp để bảo quản lâu. Ăn tới đâu lấy xuống tới đó và xé nhỏ ra. Khói ám lâu ngày làm cho thịt trâu có mùi vị đặc biệt nhưng không khó chịu vì hôi khói.
 
Nhiều món thịt được chế biến kiểu gác bếp nhưng có lẽ khô trâu là món đặc biệt nhất. Trâu miền đá rất khỏe. Chúng ăn nhiều, di chuyển nhiều nên rất vạm vỡ, thịt dai. Mổ trâu, những thứ không bảo quản được, người ta dùng chế biến các món ăn để dùng trong thời gian ngắn. Phần thịt ngon cắt ra và ướp gia vị mang gác bếp để trong thời gian dài.
Các tộc người bản địa dùng khô trâu trong các bữa ăn hàng ngày hoặc các chuyến đi rừng dài ngày. Vào mùa mưa lũ, món ăn này phát huy tác dụng bởi đảm bảo chất dinh dưỡng cho bà con dân tộc trong lúc làng bản bị cách ly với bên ngoài. Ăn chưa quen, người miền xuôi sẽ phải nhăn mặt với vị cay của gia vị và vị mặn của khô nên chỉ có thể nhấm từng chút một. Tuyệt nhất là nhấm khô trâu với rượu ngô. Cảm giác mặn, cay sẽ không còn nữa mà chỉ còn hương vị hài hòa của ẩm thực đặc trưng miền đá Hà Giang.

2. Cháo Ấu Tẩu Hà Giang

Quý khác tham gia tour du lịch hà giang sẽ được thưởng thức món cháo ấu tẩu thơm ngon bổ dưỡng

Cháo ấu tẩu có cả bốn mùa và chỉ bán vào buổi tối. Theo kinh nghiệm lâu năm của những người dân ở đây cháo có tác dụng tốt nhất qua giấc ngủ đêm. Bát cháo ấu tẩu cũng như vị thuốc thần giúp xoa tan mệt nhọc của một ngày để có một giấc ngủ sâu và khoan khoái hơn.
 
Nấu được bát cháo Ấu Tẩu cũng cầu kỳ và nhiều công đoạn. Củ ấu tẩu được ngâm kỹ trong nước vo gạo đặc một đêm, sau đó rửa sạch và đem ninh hơn 4 giờ cho tới khi củ mềm, bở tơi. Gạo tẻ thơm, trộn ít nếp cái hoa vàng cho cháo đặc sánh.
 
Bột củ ấu tẩu được nấu lẫn gạo và nước dùng ninh từ chân giò lợn. Cuối cùng khi bắc ra đập trứng gà, cho thêm ớt, tiêu, hành, rau mùi dậy lên mùi thơm ngọt ngào. Thêm chút tía tô tăng thêm tác dụng giải cảm của bát cháo. Vị ngon của cháo còn phụ thuộc bí quyết của từng nhà hàng

Cháo ấu tẩu có màu nâu sậm, vị đắng như tam thất

3. Rêu nướng

Lâu nay, rêu đá chỉ được coi là một loại thủy sinh không nhiều tác dụng. Nhưng đối với người dân tộc Tày ở xã Xuân Giang tỉnh Hà Giang, thì rêu đá được coi là đặc sản trong ẩm thực của họ. Các món ăn được chế biến từ rêu đá còn được gọi là quẹ. Đây là một món ăn vừa ngon, vừa bổ, lại có hương vị rất riêng. Tour du lịch Hà Giang sẽ giúp cho du khách có cơ hội thưởng thức món ăn vừa lạ lùng và độc đáo này.
Theo người dân địa phương, khi đi tìm rêu, họ thường chọn những bãi rêu lớn, bởi ở đó rêu vừa nhiều, vừa ngon. Rêu tươi đem về được vò đập thật kỹ cho sạch nhớt phù sa, sau đó có thể chế biến thành nhiều món.
 
Chị Hoàng Thị Cấp - Xã Xuân Giang, Quang Bình, Hà Giang cho biết: “Khi vớt, phải đứng ở dưới suối, nước cứ chảy từ trên xuống và lấy tay quơ ngang lấy, những cái nào non nhất thì mình cầm được còn cái già thì nó vẫn bám ở đá. Rêu chỉ sống trong 7 ngày, khi nó mọc lên 3 - 4 ngày là đi vớt được rồi, còn quá 7 ngày nó trở thành màu trắng bệch và không ăn được nữa”.
Rêu suối tuy nhiều, nhưng những loại rêu ngon rất ít và rêu ăn được có theo mùa, bởi vậy đối với bà con nơi đây rêu cũng là một món ăn quý. Rêu có thể được chế biến thành nhiều món như rêu rán, rêu khô nhưng độc đáo nhất vẫn là món trộn với các loại gia vị rồi đem nướng.
Theo chị Hoàng Thị Cấp, sau khi xé tơi rêu thì trộn các gia vị như xả, lá mùi tàu, lá dăm, lá hẹ và có thể cho 1-2 hạt dổi vào để cho thơm cùng với muối, mì chính, cần cái gì thì mình cho vào tuỳ theo khẩu vị của từng gia đình, sau khi trộn xong gói lá rồi nướng trên than bếp.
Khi nướng, người ta không phải xoay nhiều lần mà nướng chín một bên, sau đó nướng tiếp bên còn lại. Khi dùng hai ngón tay bấm thấy mềm là quẹ đã chín. Vì rêu ăn được theo mùa nên ngoài việc chế biến rêu tươi, người ta còn phơi khô rêu, cất lên gác bếp để làm món ăn dự trữ. Chỉ có khách quý mới được đãi món rêu khô trên gác bếp. Rêu nướng không chỉ là món ăn được nhiều đồng bào dân tộc ưa thích, mà còn có khả năng chữa nhiều bệnh, giúp lưu thông khí huyết, giải độc, giải nhiệt, ổn định huyết áp và tăng cường sức đề kháng. 

4. Mật Ong Bạc Hà Đồng Văn

Hà Giang có một sản vật độc đáo mà ít ai biết đến đó chính là mật ong bạc hà. Một thứ quà tặng mà bất cứ ai lên đây cũng muốn tìm mua bằng được.
Mật ong bạc hà lôi cuốn và làm say đắm lòng du khách không chỉ bởi vị ngọt đậm đà, êm dịu, thơm ngon, bổ dưỡng và mùi hương đặc biệt, mà hơn hết đó chính là thứ tinh tuý từ núi đá, cùng những hạt sương mai và vô vàn những khó nhọc của người Mông trên vùng cao nguyên đá.
 
Bạc hà là một loài cây dại, hoa có màu tím hồng, nở vào độ từ tháng 9 tới tháng 12 âm lịch, mùa hoa bạc hà nở rộ một màu rực rỡ như xua đi những cảm giác nặng lề, khô cằn và khắc nghiệt của miền đá dữ này cũng là lúc những bầy ong cao nguyên đá đua nhau đi lấy mật về tổ để chắt lọc ra từng giọt mật quý giá cho đời.

Từ lâu mật ong bạc hà đã được truyền tụng là một vị thuốc với những dược tính đặc biệt. Đó là khả năng bồi bổ sức khỏe, công dụng chữa các bệnh về hô hấp, đường tiêu hóa. Vị thơm, ngọt dịu hiếm có của loại mật ong này cũng có sức hút đặc biệt.

Mật ong bạc hà được người Mông ở cao nguyên đá sản xuất theo phương pháp truyền thống, chủ yếu lấy từ hoa bạc hà và một số loài hoa của các loại thảo mộc hoang dại. Mật ong bạc hà có màu xanh nhạt, pha lẫn chút màu vàng nhạt, khi thưởng thức có mùi thơm đặc trưng riêng, vị ngọt dịu mát và sánh đặc…là thứ mật thơm ngon hơn tất thảy những thứ mật ong khác mà tôi đã từng gặp. Có lẽ cũng chính vì vậy mà giá bán của mật ong bạc hà cũng cao hơn rất nhiều các loại mật ong khác. Hơn nữa, sản lượng mật ong bạc hà mỗi năm không nhiều, không bầy bán ở chợ như những thứ khác nên khó tìm mua thứ đặc sản độc đáo này.

Nghề nuôi ong lấy mật của người Mông trên cao nguyên đá đã có từ nhiều đời nay, mỗi gia đình đều có vài ba tổ ong để nuôi lấy mật làm thuốc và làm bánh vào các dịp lễ Tết. Ngày nay, du lịch trên cao nguyên đá đang phát triển khởi sắc, mật ong bạc hà là thứ quà tặng độc đáo và hấp dẫn đối với nhiều du khách khi lên cao nguyên đá. Vì vậy, nhu cầu mua mật ong bạc hà ngày càng cao của khách du lịch đã mang lại những nguồn thu nhập đáng kể cho người Mông nơi đây.

Tuy nhiên, để sản vật đặc biệt thơm ngon, quý giá này được nhiều người biết đến và trở thành thương hiệu nổi tiếng cần có chiến lược phát triển, quảng bá, giới thiệu rộng rãi để du khách đến với cực bắc Hà Giang có thể mua mật ong bạc hà một cách dễ dàng hơn.

Thiên nhiên đã ban tặng cho Hà Giang nhiều địa danh, thắng cảnh tuyệt đẹp, đây là một tiềm năng du lịch sinh thái rất có giá trị. Ngoài phong cảnh núi non hùng vĩ, những di tích lịch sử văn hoá cùng với nét văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc. Tham gia tour du lich ha giang, du khách còn được thưởng thức những đặc sản nổi tiếng mang đậm nét hương vị vùng cao. Phần 2 của bài viết, chúng tôi tiếp tục giới thiệu đến các bạn những món ăn hấp dẫn tại Hà Giang: chè San Tuyết, lạp xường vùng cao, thắng cố, thịt bò khô Đồng Văn.

1. Chè San Tuyết

Hà Giang là một trong những tỉnh có vùng chè Shan lâu đời nhất nước ta. Ngay từ những năm đầu thế kỷ 20, người Pháp đã tiến hành điều tra chè ở Hà Giang và đặc biệt chú ý những cây chè cổ thụ vùng cao. Đó là thứ chè Shan lá to, búp và lá non có nhiều lông trắng như tuyết, sinh trưởng khoẻ, chịu ẩm, chịu lạnh, năng suất cao và chất lượng tốt. Vì vậy, người ta còn gọi là chè Shan tuyết.
Trong các khu rừng tự nhiên của Hà Giang, cây chè Shan mọc lẫn với các loại cây rừng khác. Quá trình du cư đến sinh sống, đồng bào phá rừng làm nương và giữ lại các cây chè, tiếp tục khai thác. Có những nơi, đồng bào còn trồng bổ sungbằng hạt, tạo nên những nương chè hỗn giao theo dạng chè rừng.
Ở Hà Giang, chè shan phân bố hầu khắp các huyện, trong đó các vùng chè cổ thụ đều có độ cao từ 300-1000m. Cho đến nay, một số vùng trong tỉnh có tính đặc trưng cao cho các tiểu vùng sinh thái có chè shan như: Lũng Phìn- Đồng Văn đại diện cho vùng cao núi đá vôi; Phìn Hồ- Hoàng Su Phì đại diện cho vùng cao núi đất; Tham Vè, Bó Đướt- Vị Xuyên đại diện cho vùng chè cổ nhất Việt Nam. Đây cũng chính là những địa phương có sản phẩm chè shan tuyết thơm ngon nổi tiếng. Danh tiếng của chè shan tuyết Lũng Phìn hay Phìn Hồ, Cao bồ, Thượng Sơn không chỉ chinh phục được người tiêu dùng mà cả với những người sành thưởng thức trà.
 
Ngoài những chỉ tiêu sinh hoá ở mức rất có lợi cho chế biến chè chất lượng cao, chè shan Hà Giang là nguồn nguyên liệu sạch. Bởi vì, cho đến tận bây giờ, ở các vùng chè shan lâu đời của Hà Giang, đồng bào vẫn không sử dụng phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật mà chủ yếu là khai thác tự nhiên. Người ta thường đốn chè vào vụ Đông, đồng thời với việc phát cỏ, vun gốc… Sang xuân, vào thời điểm cuối tháng 3, đầu tháng 4, người ta bắt đầu thu hái chè vụ đầu tiên đây là thời điểm chè cho chất lượng cao nhất. Tiếp tục thu hái vụ chè thứ 2 vào tháng 5 và tháng 6 là vụ có năng suất cao nhất trong năm. Vụ 3 vào tháng 8 và vụ 4 vào tháng 10, tháng 11. Vì vậy, có thể khẳng định chè shan Hà Giang là vùng nguyên liệu có giá trị để sản xuất chè an toàn chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của thị trường, phù hợp với xu hướng phát triển nông nghiệp bền vững hiện nay.

Chè shan Hà Giang là nguồn nguyên liệu sạch cho sản xuất chè chất lượng cao đã được các nhà sản xuất trong nước và thế giới công nhận. Trong thời gian tới, để nâng cao hơn nữa chất lượng cho thương hiệu chè shan tuyết Hà Giang thì công nghệ chế biến phải được đặt lên hàng đầu. Với nguồn nguyên liệu tuyệt vời như chè shan Hà Giang cộng với công nghệ chế biến hiện đại đảm bảo sẽ cho ra đời những sản phẩm chè không thua kém bất cứ danh trà nào trên thế giới.

2. Lạp Xường Vùng Cao

Mỗi dịp tết đến, đã thành lệ, cứ đến khoảng 27, 28 tháng Chạp, người dân khắp các bản làng lại nô nức rủ nhau mổ lợn. Cứ hai, ba nhà chung nhau đụng một con. Thịt để làm nhân bánh chưng, làm các món kho, nướng, quay, luộc… ăn trong mấy ngày tết. Và bao giờ người ta cũng dành ra một ít lòng non, một phần thịt để làm lấy một vài cân lạp xường có nơi còn gọi là lạp xưởng hay lạp sườn.

Để làm nhân lạp xường người ta chọn loại thịt nửa nạc nửa mỡ. Bởi nạc nhiều, lạp xường sẽ khô, sác; mỡ nhiều, lạp xường sẽ nhão, ăn mau ngấy nên loại thịt thích hợp nhất để làm lạp xường là thịt vai. Thịt được lạng bỏ lớp bì, thái miếng vừa phải, ướp muối, đường, bột ngọt. Và không thể thiếu một ít rượu trắng, một ít nước gừng và một ít quả mắc mật khô xay nhỏ ướp cùng. Theo kinh nghiệm của đồng bào nơi đây thì ướp thịt với rượu trắng và nước gừng như vậy khiến cho lạp xường sẽ có mùi thơm rất đặc trưng, để được lâu mà không bị hỏng.

Công việc phức tạp nhất là nhồi lạp xường. Với một chiếc phễu và một chiếc đũa, từ từ dồn thịt vào cho đầy phần lòng non đã chuẩn bị. Để dễ làm, cứ nhồi được chừng hai ba mươi phân thì buộc lại thành khúc. Thỉnh thoảng lại lấy kim châm vài chỗ cho khí thoát ra để lạp xường khỏi nứt. Nhồi xong thì đem lạp xường đi phơi nắng cho khô dần. Hoặc đem hong trên gác bếp. Hơi ấm của bếp lửa sẽ làm lạp xường se lại, săn chắc. Lạp xường được nắng, được hơi lửa, cứ ánh lên màu đỏ hồng của thịt nạc xen những đường vân trắng ngà của thịt mỡ trông thật hấp dẫn. Ngày 27, 28 làm lạp xường thì khoảng mồng 2, mồng 3 tết là ăn được.

Lạp xường khi đã khô thì để nguyên cả khúc đem chiên cho chín sau đó mới thái lát, khi ăn chấm với mắm gừng. Hoặc thái lạp xường thành các khoanh dầy vừa phải, chờ cho mỡ trong chảo thật nóng già thì cho lạp xường vào, đảo lên, rưới thêm ít nước mắm, rắc thêm chút hành tươi. Đĩa lạp xường thơm phức, mới trông đã thấy thèm. Cho nên ngày tết, dù có bao món ngon, lạp xường vẫn là món được mọi người đụng đũa nhiều hơn cả.
 
Lạp xường có mùi của nắng vùng cao, mùi của khói bếp, thoảng mùi gừng, mùi rượu, mùi mắc mật thơm một cách đặc biệt. Vị dai của lòng, vị ngọt của thịt nạc, vị béo của mỡ hòa quyện với nhau, ăn thật ngon miệng. Nhấp thêm chút rượu nữa thì càng thêm khoái khẩu.

3. Thắng Cố Đồng Văn

Lên vùng cao nguyên cực Bắc mà chưa thưởng thức món thắng cố và uống chén rượu ngô thì coi như vẫn chưa thấy được nét văn hóa đặc trưng của đất và tình người cao nguyên đá.

Chợ phiên Đồng Văn mỗi tuần duy nhất họp một phiên vào ngày chủ nhật, cảnh tượng người người tấp nập xuống núi đi “chơi chợ” khiến khu chợ nhỏ bé, tĩnh lặng bỗng nhiên đông vui và náo nhiệt khác hẳn ngày thường.

Đồng bào đến chợ không chỉ để mua bán, trao đổi hàng hoá thông thường mà chợ phiên còn để mọi người gặp nhau, giao lưu trò chuyện, phụ nữ thì khoe sắc trong những bộ váy áo thổ cẩm sặc sỡ, nam giới thì khoe tài trong tiếng sáo, tiếng khèn gọi bàn tình....và hơn tất cả mọi người không quên ăn một tô thắng cố nóng hổi, nghi ngút khói và uống chén rượu ngô mềm môi thơm lừng.

Vào ngày chợ phiên hàng quán bán thắng cố bao giờ cũng được đồng bào tập trung đông đúc và náo nhiệt nhất, từng tốp nam nữ quây quần bên bàn gỗ đơn sơ, trò chuyện hàn huyên, khi men rượu đã đủ làm người ta say men nồng thì cũng là lúc khu chợ nhỏ bé vui và hay nhất, các đấng tu mi nam nhi bắt đầu gửi tâm tình trong tiếng sáo, tiếng khèn làm ngây ngất bao tâm hồn các thiếu nữ miền sơn cước, chén rượu ngô cũng đủ để làm cho đôi má thiếu nữ ửng hồng... đã có những đôi nam nữ nên vợ thành chồng chính từ phiên chợ như thế này.

Thắng cố là món ăn phổ biến của nhiều đồng bào dân tộc ở các tỉnh miền núi cao phía Bắc, mỗi vùng, mỗi dân tộc có cách chế biến và những gia vị khác nhau cho chảo thắng cố truyền thống của dân tộc mình, tuy nhiên về cơ bản đều có những nét chung. Nguyên liệu chính cho chảo thắng cố là toàn bộ phần nội tạng (lục phủ, ngũ tạng), xương của trâu, bò, ngựa hay dê đem cho tất cả vào chảo xào qua lửa rồi đổ nước vào ninh kỹ trong nhiều giờ, đến khi các thứ chín nhừ thì điều chỉnh nhỏ lửa hơn.

Điều đặc biệt là đồng bào rất ít khi làm thắng cố lợn mà chỉ có thắng cố trâu, bò, ngựa, dê.  Các loại gia vị cho chảo thắng cố cũng là những sản vật tự nhiên trong vùng như thảo quả, củ sả, hạt dổi, địa liền, khi ăn thì cho thêm ớt, hạt tiêu và đương nhiên là không thể thiếu rượu ngô.
                                                                      
Mới nhìn qua thì có vẻ chảo thắng cố không mấy hấp dẫn và lôi cuốn bởi đồng bào bầy biện không được đẹp mắt lắm nhưng khi đã nhấp đôi ba chén rượu ngô ăn một tô thắng cố nóng nghi ngút khói giữa cái giá rét như cắt da cắt thịt, cảm nhận lòng mình như ấm lên nhiều. Vị béo ngậy cộng chút bùi bùi độc đáo khác lạ, bát thắng cố dậy mùi thơm từ các loại gia vị đã để lại nhiều ấn tượng với nhiều lữ khách khi đến với miền cực Bắc này.

4. Thịt Bò Khô Đồng Văn

Thịt bò khô là một dạng thực phẩm dự trữ độc đáo của đồng bào các dân tộc thiểu số ở các tỉnh vùng cao phía Bắc nói chung và Hà Giang nói riêng. Với cư dân vùng cao và khách du lịch, thịt bò khô đã trở thành món đặc sản mà bất cứ du khách nào đặt chân đến vùng đất này đều muốn mua về làm quà cùng với mật ong, tam thất...

Có thể nói thịt bò khô là một đặc sản quý của miền cao nguyên đá Đồng Văn. Bởi cách chế biến món ăn này khá công phu và mất nhiều thời gian. Đầu tiên người ta chọn loại thịt bò tươi, ngon mà tốt nhất là thịt bắp bò. Thái thịt theo thớ dọc rồi ướp gia vị gồm muối, tỏi, ớt, rượu… Đợi cho gia vị thấm và từng thớ thịt, lấy que tre xiên và mang thịt đi hong khói hoặc sấy khô bằng than củi. Cách làm này là để có thịt ăn ngay. Còn với đồng bào các dân tộc nơi đây, họ thường treo thịt lên gác bếp để khói hun thịt một cách tự nhiên. Càng để lâu thì thịt càng quắt lại và càng chín.

Tuy nhiên để có được một kg thịt bò khô nguyên chất, đúng kiểu của đồng bào, cần có sự chuẩn bị, lựa chọn nguyên liệu, pha ướp gia vị hợp lý. Thịt bò khô đúng kiểu vùng cao phải có màu nâu óng, mặt ngoài vương bồ hóng, ám khói, dai, thơm.
 
Cao nguyên Đồng Văn, Hà giang vốn là một bình nguyên núi đá vôi rộng lớn, nơi nhiệt độ mùa đông đôi khi xuống thấp đến 3 - 4 độ C. Việc chăn nuôi đại gia súc chịu lạnh tốt như bò rất phát triển. Thịt bò trở thành thứ thực phẩm chủ yếu giàu chất dinh dưỡng, có thể sơ chế để dự trữ trong những ngày kham hiếm thực phẩm, những ngày mùa đông lạnh.

nha hang noi bai, Nhà Hàng Nội Bài, nha hang noi bai, nha hang san bay noi bai, nha hang san bay noi bai